Câu hỏi

14/10/2024 21

Thảo luận nhóm: Suy nghĩ của bạn về hình tượng các nhân vật nữ: thị Nở (truyện ngắn Chí Phèo – Nam Cao) và người vợ nhặt (truyện ngắn Vợ nhặt – Kim Lân). Từ đó, hãy đánh giá giá trị nhân đạo của mỗi tác phẩm

Danh mục liên quan

  • Trắc nghiệm Ngữ Văn 11
  • Lời giải của Vua Trắc Nghiệm

    Mẫu 1:

    – Hình tượng nhân vật Thị Nở (trong Chí Phèo – Nam Cao):

    + Ngoại hình và hoàn cảnh: Thị Nở là một người phụ nữ xấu xí, nghèo khó, lại mang trong mình nhiều định kiến của xã hội về sự thô lỗ, kém duyên. Thị bị xem là “cái xấu của tạo hóa,” bị xã hội và chính gia đình mình khinh rẻ.

    + Vai trò trong tác phẩm: Dù bị coi thường, Thị Nở lại là tia sáng cuối cùng của Chí Phèo, khi sự chăm sóc và tình cảm chân thành của Thị đã đánh thức phần người còn sót lại trong Chí. Qua hình ảnh Thị Nở, Nam Cao thể hiện thông điệp về khả năng cứu rỗi và chữa lành từ tình yêu và sự thấu hiểu giữa con người, dù trong những hoàn cảnh tuyệt vọng nhất.

    – Hình tượng nhân vật người vợ nhặt (trong Vợ nhặt – Kim Lân):

    + Ngoại hình và hoàn cảnh: Người vợ nhặt không có tên, xuất hiện trong cảnh đói kém năm 1945. Cuộc sống khốn khó đẩy cô vào hoàn cảnh phải chấp nhận “theo không” Tràng chỉ vì vài bát bánh đúc. Nhân vật này đại diện cho hình ảnh của hàng triệu người phụ nữ khốn khổ, bần cùng trong nạn đói.

    + Vai trò trong tác phẩm: Người vợ nhặt không chỉ là một biểu tượng của sự cùng cực mà còn là hy vọng và khát vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn. Qua nhân vật này, Kim Lân nhấn mạnh bản năng sinh tồn và ước vọng về hạnh phúc của con người, dù đang ở ranh giới giữa sống và chết.

    – Giá trị nhân đạo của các tác phẩm:

    + Giá trị nhân đạo của Chí Phèo (Nam Cao): Tác phẩm thể hiện sự đồng cảm sâu sắc với những con người bị xã hội vùi dập, bị tha hóa đến mức mất cả nhân tính như Chí Phèo. Qua hình tượng Thị Nở, Nam Cao gửi gắm niềm tin vào khả năng cứu rỗi con người thông qua tình thương, ngay cả với những người tưởng như đã mất hết hy vọng.

    + Giá trị nhân đạo của Vợ nhặt (Kim Lân): Vợ nhặt mang giá trị nhân đạo sâu sắc, thể hiện niềm tin vào sự sống, lòng nhân ái và tinh thần vượt qua khó khăn của con người. Dù bị cái đói đe dọa, người ta vẫn hướng tới tương lai và hy vọng vào một cuộc sống tốt đẹp hơn. Hình ảnh người vợ nhặt là biểu tượng của sự kiên cường, không từ bỏ niềm tin vào sự sống.

    Mẫu 2: 

    1. Hình tượng nhân vật người phụ nữ:

    a. Thị nở (Chí Phèo – Nam Cao)

    * Ngoại hình

    – Miêu tả khách quan, trần trụi: một người “ngẩn ngơ như những người đần trong cổ tích và xấu ma chê quỷ hờn”

    + Ngẩn ngơ: hành động theo bản năng

    + Xấu ma chê quỷ hờn: từng đường nét trên khuôn mặt không giống với những gì nên có trên khuôn mặt con người

    + Đã vậy, Thị còn nghèo và nhà có mả hủi:

    ⇒ Thị khó có được hạnh phúc bởi một con người mang trên mình toàn những điều bất lợi

    * Là con người với phẩm chất tốt đẹp, giàu tình người

    – Nam Cao xây dựng hình tượng nhân vật Thị Nở xấu ma chê quỷ hờn không phải để miệt thị mà nhằm làm nổi bật nội tâm đầy tình thương của Thị Nở

    + Sau cuộc gặp gỡ vào đêm định mệnh, Thị Nở dành sự quan tâm cho Chí Phèo:

    + Thị Nở quan tâm đến Chí Phèo, nấu cháo hành cho Chí ăn khi hắn bị ốm. Bưng bát cháo hành thị Nở đưa cho “hắn thấy mắt mình hình như ươn ướt. Bởi vì lần này là lần thứ nhất hắn được một người đàn bà cho”

    + Chính thị Nở đã suy nghĩ về Chí Phèo: “Ôi sao mà hắn hiền, ai dám bảo đó là cái thằng Chí Phèo vẫn đập đầu, rạch mặt mà đâm chém người” ⇒ một cái nhìn khác với những cái nhìn của người làng Vũ Đại

    +Tình cảm và sự quan tâm của Thị Nở với Chí Phèo đã như một liều thuốc chữa lành bao nhiêu “vết thương, vết rạch” để Chí Phèo quay trở lại thành một người với sự lương thiện trong căn tính

    ⇒ Chính tình thương và sự quan tâm khiến Thị trở nên có duyên trong mắt Chí

    * Thị Nở còn là người có khát khao hạnh phúc gia đình

    – Thị Nở thích cuộc sống gia đình có vợ có chồng

    – Suy nghĩ rất nghiêm túc về mối quan hệ với Chí

    – Đối với Chí, cảm giác “ngượng ngượng mà thinh thích”

    – Bởi khát khao và suy nghĩ nghiêm túc về hạnh phúc gia đình nên Thị đã trở về xin phép bà cô và thái độ tức giận khi bà cô từ chối

    * Là nhân vật góp phần làm nổi bật chủ đề tác phẩm: bi kịch cuộc đời Chí Phèo

    – Xây dựng nhân vật Thị Nở, Nam Cao muốn làm trọn vẹn thêm vấn đề trung tâm của tác phẩm: sự bi thảm trong bi kịch cuộc đời Chí Phèo

    + Ban đầu, Thị Nở và Chí Phèo đến với nhau chỉ bởi sự chung đụng về mặt thể xác

    +Sau đó, chính tình thương của Thị Nở đã làm thức dậy sự lương thiện vốn có trong Chí

    + Khi Thị Nở từ chối Chí, Chí Phèo từ chỗ khát khao và hạnh phúc đến tột cùng bị đẩy xuống tận cùng của nỗi tuyệt vọng ⇒ đẩy Chí đến những hành động sau này: uống rượu, xách dao đi giết Bá Kiến và tự sát

    ⇒ Thị Nở là nhân vật thúc đẩy sự phát triển của câu chuyện, đồng thời cho người ta cảm nhận sâu sắc hơn bi kịch của nhân vật chính: Chí Phèo

    b. Hình tượng nhân vật thị (Vợ nhặt – Kim Lân)

    * Lai lịch, xuất thân và hoàn cảnh của Thị

    – Không có quê hương gia đình → nạn đói năm 1945 đã khiến biết bao con người bị dứt khỏi quê hương, gia đình.

    – Tên tuổi cũng không có và qua tên gọi “vợ nhặt” → cho thấy sự rẻ rúng của con người trong cảnh đói.

    – Hoàn cảnh:

    + Không việc làm cụ thể, cuộc sống bấp bênh, bị nạn đói dồn dập đẩy đang trên bờ vực cái chết.

    + Cái đói quay quắt đã dồn đẩy chị, làm chị đánh mất cả sĩ diện và lòng tự trọng

    => Thị là nạn nhân của nạn đói với số phận bi thảm, đáng thương.

    * Chân dung ngoại hình của Thị

    – Ngoại hình:

    + Quần áo tả tơi như tổ đỉa, gầy sọp

    + Khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn hai con mắt.

    + Cái ngực gầy lép nhô lên

    => Ngoại hình không mấy dễ nhìn, là hiện thân của sự nghèo đói, khốn khổ.

    – Hành động, cử chỉ

    + Lần thứ nhất, khi nghe câu hò vui của Tràng, thị đã vui vẻ giúp đỡ → đây chính là sự hồn nhiên vô tư của người lao động nghèo.

    + Lần thứ hai:

    • Thị sưng sỉa mắng Tràng, từ chối ăn trầu để được ăn một thứ có giá trị hơn

    • Khi được mời ăn tức thì ngồi sà xuống, mắt sáng lên, “ăn một chặp bốn bát bánh đúc”

    • Khi nghe Tràng nói đùa “đằng ấy có về với tớ… cùng về”, thị đã theo về thật → Trong cái đói khổ, đó là cơ hội để thị bấu víu lấy sự sống.

    => Cái đói khổ không chỉ làm biến dạng ngoại hình mà cả nhân cách con người, khiến người ta mất đi cả lòng tự trọng, sĩ diện và sự e thẹn, dịu dàng vốn có của người phụ nữ.

    * Phẩm chất, vẻ đẹp tâm hồn của Thị

    – Có khát vọng sống mãnh liệt:

    + Quyết định theo Tràng về làm vợ dù không biết về Tràng, chấp nhận theo không về không cần sính lễ vì thị sẽ không phải sống cảnh lang thang đầu đường xó chợ.

    + Khi đến nhà thấy hoàn cảnh nghèo khổ, trái ngược lời tuyên bố “rích bố cu”, thị “nén một tiếng thở dài”, dù ngao ngán nhưng vẫn chịu đựng để có cơ hội sống.

    – Thị là người ý tứ và nết na:

    + Trên đường về, thị cũng rón rén e thẹn đi sau Tràng, đầu hơi cúi xuống, thị ngại ngùng cho thân phận vợ nhặt của mình.

    + Khi vừa về đến nhà, Tràng đon đả mời ngồi, chị ta cũng chỉ dám ngồi mớm ở mép giường, hai tay ôm khư khư cái thúng, thể hiện sự ý tứ khi chưa xác lập được vị trí trong gia đình.

    + Khi gặp mẹ chồng, ngoài câu chào thị chỉ cúi đầu, “hai tay vân vê tà áo đã rách bợt”, thể hiện sự lúng túng ngượng nghịu.

    + Sáng hôm sau, thị dậy sớm quét tước nhà cửa, không còn cái vẻ “chao chát, chỏng lỏn” mà hiền hậu, đúng mực.

    + Lúc ăn cháo cám, mới nhìn “mắt thị tối lại”, nhưng vẫn điềm nhiên và vào miệng thể hiện sự nể nang, ý tứ trước người mẹ chồng, không buồn làm bà buồn.

    => Cái đói có thể cướp đi nhân phẩm trong khoảnh khắc nào đó chứ không vĩnh viễn cướp đi được tâm hồn con người.

    – Thị còn là người có niềm tin vào tương lai: kể chuyện phá kho thóc trên Thái Nguyên, Bắc Giang để thắp lên hi vọng cho cả gia đình, đặc biệt là cho Tràng.

    => Nhận xét chung: Nhân vật người vợ nhặt là nhân vật thể hiện giá trị hiện thực và nhân đạo trong tác phẩm, tiêu biểu cho những người nghèo khổ, khốn cùng bị cái đói, cái chết đe dọa, dồn đẩy đến bước đường cùng. Thị luôn khao khát hạnh phúc gia đình, đem đến làn gió tươi sáng, ấm áp cho gia đình anh Tràng và cả người dân ở xóm ngụ cư trong hoàn cảnh bi đát nhất.

    2. Giá trị nhân đạo:

    a. Chí Phèo – Nam Cao:

    – Niềm cảm thương sâu sắc đối với những số phận khổ đau, bất hạnh như Chí Phèo, thị Nở.

    – Khẳng định, đề cao nhân tính, đề cao con người.

    – Nam Cao phê phán những thế lực bạo tàn chà đạp con người.

    – Nam Cao đề ra giải pháp mang tính nhân đạo, mang ý nghĩa hiện thực và triết lí sâu sắc: lật đổ xã hội tàn bạo để bảo toàn nhân tính của con người.

    b. Vợ nhặt – Kim Lân:

    – Niềm cảm thương, đồng cảm sâu sắc của nhà văn trước số phận của những người nghèo khổ.

    – Là tiếng nói khẳng định, đề cao những tình cảm cao đẹp của người lao động nghèo khổ: đó là tình yêu thương đùm bọc, tình mẫu tử, khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc.

    – Thể hiện niềm tin, niềm hi vọng vào cuộc sống vào tương lai dù ở trong tình cảnh khốn khó nhất.

    – Lên án tố cáo tội ác dã man của thực dân Pháp và phát xít Nhật đã gây ra nạn đói khủng khiếp.

    Mẫu 3:

    Người phụ nữ Việt Nam từ xưa đã trở thành một đề tài không thể thiếu trong văn chương cả trong cổ đại và hiện đại, đặc biệt trong văn chương hiện đại, chúng ta phải kể đến đó là nhân vật thị Nở trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao và người vợ nhặt trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân. Đây là hai hình tượng người phụ nữ Việt Nam hiện đại trong hai tình cảnh khác nhau để lại trong người đọc nhiều suy ngẫm. Đầu tiên là thị Nở. Dưới ngòi bút của Nam Cao, thị Nở hiện lên là một người phụ nữ xấu xí, đã quá tuổi lấy chồng và tính cách có thể coi là dở hơi, không bình thường. Thị nên duyên với Chí Phèo – con quỷ của làng Vũ Đại. Ban đầu, thị cũng cảm thấy hạnh phúc, vui sướng khi đón nhận tình yêu của Chí, thị quan tâm, chăm sóc cho hắn như những người yêu nhau thật sự mà bỏ qua quá khứ của hắn. Tình yêu của thị giản dị nhưng đã cảm hóa được Chí, khiến hắn muốn từ bỏ con đường hiện tại, trở lại cuộc sống làm người lương thiện. Nhưng cái dở hơi ở đây là thị lại nghe lời cô mình, thị đinh ninh chia tay hắn mà để rồi gây ra thảm kịch phía sau. Dù vậy, chúng ta không thể đánh giá nhân vật thị Nở là người xấu bởi thị làm như vậy cũng không sai, thị cũng như bao người phụ nữ khác, mong muốn tình yêu, khát khao hạnh phúc nhưng Chí không phải là người tốt lành gì. Nam Cao không khen, cũng không chê nhân vật này bởi ông luôn tin tưởng vào sự lương thiện của con người. Ở một phương diện khác, tại nạn đói năm Ất Dậu ấy, trong Vợ nhặt của Kim Lân – nhân vật người vợ nhặt hiện lên với sự thay đổi về tính cách bởi hoàn cảnh. Thị cũng là nạn nhân của nạn đói, không việc làm, không nhà cửa. Với điệu bộ chao chát, sưng sỉa, thị tin vào câu hò của Tràng và theo anh về làm vợ mà không hề biết đến gia cảnh. Sau khi nói chuyện với bà cụ Tứ, chấp nhận cuộc sống vợ chồng này, thị liền thay đổi, trở thành một “người phụ nữ hiền hậu, đảm đang” – vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam truyền thống. Tính cách trước và sau khi về làm vợ Tràng của thị hoàn toàn thay đổi và nó thể hiện đúng bản chất của người phụ nữ Việt Nam, khi đến đường cùng họ có thể làm mọi cách để được sống nhưng khi trở lại cuộc sống bình thường, học vẫn sẽ là người phụ nữ khiêm nhường đáng kính trọng. Qua đây, ta thấy được hai tác phẩm đều thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc. Một bên, Nam Cao khoan dung, luôn tin tưởng vào nhân cách của con người trong mọi hoàn cảnh, dù thế nào họ vẫn sẽ tìm được bản chất lương thiện vốn có bên trong con người mình. Đối với Kim Lân, đó là tinh thần khát khao được sống, được tìm thấy hạnh phúc trong nạn đói bao trùm, là tình yêu thương của người mẹ già dành cho con cái cùng những lời động viên hướng đến tương lai tươi sáng. Cuối cùng, cả hai tác phẩm đều nhằm tố cáo xã hội lúc bấy giờ với những chính sách tàn bạo, tay sai của thực dân đế quốc đã đẩy con người đến tận cùng của khổ đau, khiến họ bị tha hóa về nhân cách.

    × sticky