Câu hỏi

14/10/2024 19

Tìm đọc thêm một số truyện ngắn của Nam Cao (Lão Hạc, Đời thừa, Bài học quét nhà, cái chết của con mực,…) và Kim Lân (Con chó xấu xí, Làng,…); từ đó, phân tích những nét nổi bật trong cách kể chuyện của từng tác giả

Danh mục liên quan

  • Trắc nghiệm Ngữ Văn 11
  • Lời giải của Vua Trắc Nghiệm

    Cách 1:

    Những nét nổi bật trong cách kể chuyện của từng tác giả:

    * Nhà văn Nam Cao:

    – Đề tài, chủ đề: Nam Cao thường hướng ngòi bút của mình vào miêu tả những cái nhỏ nhặt, xoàng xĩnh cuộc sống hàng ngày, từ đó đặt ra những vấn đề có ý nghĩa xã hội to lớn, những triết lý sâu sắc về con người, cuộc sống, nghệ thuật.

    – Cốt truyện, kết cấu: Trong nhiều tác phẩm của ông cốt truyện được hư cấu rất đơn giản, dường như không cần đến sự tổ chức, sắp xếp. Có nhiều truyện của Nam Cao không có cốt truyện.

    – Nghệ thuật miêu tả và phân tích tâm lí nhân vật: Hướng ngòi bút vào thế giới bên trong của con người, miêu tả tâm lý trong chiều sâu của sự vận động và phát triển của nhân vật.

    – Ngôn ngữ, giọng điệu:

    + Ngôn ngữ trong sáng tác của Nam Cao là ngôn ngữ đa âm, phức điệu, hiện đại. Ông không chỉ sử dụng đắc địa đại từ nhân xưng: nó, hắn, y, thị, gã mà còn có khả năng hóa thân, nhập vai vào tất cả các nhân vật, suy nghĩ và nói năng bằng tiếng nói của nhân vật. Có sự hòa quyện giữa ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật, có sự chuyển hóa, trao đổi từ ngôn ngữ người kể chuyện sang ngôn ngữ nhân vật.

    + Trong truyện của Nam Cao ta thường bắt gặp một giọng điệu có sắc thái tưởng chừng đối lập nhau. Ấy là giọng khách quan lạnh lùng, tàn nhẫn bên ngoài mà cảm thông, thương xót bên trong.

    * Nhà văn Kim Lân:

    – Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Nhân vật: Kim Lân khắc họa được hình tượng sinh động. Bà cụ Tứ, Tràng tiêu biểu cho những người lao động cơ cực, nhưng vẫn nguyên vẹn tấm lòng nhân hậu, trong sáng.

    – Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện độc đáo: Kim Lân thường đưa nhân vật vào những tình huống éo le, độc đáo để làm nổi bật tính cách, suy nghĩ, vẻ đẹp nội tâm của nhân vật.

    – Sử dụng ngôn ngữ bình dân, tinh tế, có duyên: mộc mạc, giản dị. Ngôn ngữ gần với khẩu ngữ, nhưng có sự chắt lọc kĩ lưỡng, có sức gợi đáng kể: bước “ngật ngưỡng”, đường “khẳng khiu, nhấp nhỉnh”, vẻ mặt “phớn phở”, dãy phố “úp súp, dật dờ “… Cách viết như thế tạo nên một phong vị và sức lôi cuốn riêng.
    – Nghệ thuật trần thuật tự nhiên, hấp dẫn. Trần thuật thông qua đối thoại giữa các nhân vật cũng là một nét đặc sắc của Kim Lân.

    Cách 2:

    * Nam Cao

    Ông là một trong những cây bút có đóng góp lớn nhất đối với quá trình phát triển của văn học Việt Nam thế kỷ XX. Ông là người luôn có xu hướng viết về nỗi nghèo khổ của người nông dân đương thời và phản ánh sự thối nát của chế độ xã hội. Bởi vậy, truyện ngắn của ông luôn mang giọng điệu buồn thương, chua chát – một nghệ thuật trữ tình sắc lạnh mà sâu sắc. Đặc biệt chúng ta phải kể đến đó là nét nghệ thuật độc đáo trong các tác phẩm của ông.

    Trước hết phải kể đến là cách lựa chọn đề tài, chủ đề độc đáo. Nam Cao thường chọn những chủ đề nhỏ nhặt như câu chuyện về cuộc đời của Lão Hạc, Chí Phèo rồi văn Hộ… để làm nội dung cho tác phẩm. Nhưng qua những câu chuyện nhỏ nhặt về cuộc sống, tính cách những nhân vật ấy, ông muốn gửi đến người đọc những bài học ý nghĩa, những triết lý nhân sinh sâu sắc về cuộc sống và con người, đồng thời phê phán chế độ xã hội thực dân phong kiến thối nát. Chủ đề chủ yếu mà ông xoay quanh đó là cuộc sống quẩn quanh, bế tắc trong cái đói, cái nghèo như lão hạc; là vấn đề về miếng ăn, cái đói khiến con người từ bỏ tất cả để có được bữa ăn no như bài cái Tý trong “Một bữa no” hay trong “Tư cách mõ”… Tất cả nhằm làm nổi bật nên nỗi bất hạnh, khốn khổ của người nông dân trước cách mạng tháng Tám.

    Tiếp đến phải kể đến là cốt truyện vững chắc, kết cấu linh hoạt qua từng chi tiết. Như trong Giăng sáng, Đời thừa, Mua nhà, Sống mòn… tâm tư, tình cảm, thái độ của mỗi nhân vật đều được biểu hiện qua những cử chỉ, hành vi, nét mặt hay qua những lời độc thoại nội tâm đều vô cùng xuất sắc và sắp xếp theo một trình tự hợp lý. Thường thì Nam Cao sẽ thường chú ý tới những chi tiết vặt vãnh, nhỏ bé và cho rằng nó mới là những thứ cần thiết để nói lên nhân cách của một con người, của tác phẩm.

    Cuối cùng, phải kể đến đó là nghệ thuật miêu tả và phân tích tâm lý nhân vật tinh tế, sắc sảo. Ông luôn đề cao tư tưởng, chú trọng tới hoạt động bên trong của con người, thể hiện niềm tin vào nhân cách, sự lương thiện của con người dù trong bất cứ hoàn cảnh nào. Bằng việc thâm nhập vào đời sống nội tâm của nhân vật, ông có thể soi chiếu, miêu tả một cách rõ nhất về những sự việc, biến cố xảy ra trong mỗi câu chuyện một cách rõ nét nhất, giúp người đọc hiểu sâu hơn về tác phẩm.

    Như vậy, có thể nói Nam Cao quả là một cây bút lớn của nền văn học Việt Nam bởi lối viết văn chân thực, giản dị, phản ánh những câu chuyện đời thường mà qua đó nhằm truyền tải đến những triết lý nhân sinh sâu sắc.

    * Kim Lân

    Kim Lân – một trong những cây bút nổi bật khi viết về nông thôn Việt Nam. Tên tuổi của ông gắn với những tác phẩm bình dị, nhân văn sâu sắc của những người nông dân thật thà, chất phác sống trong thời buổi loạn lạc. Bởi vậy, nghệ thuật kể chuyện của ông luôn là một điều khiến nhiều người chú ý đến.

    Trước hết là việc lựa chọn chủ đề, đề tài cho tác phẩm. Các tác phẩm của ông đều hướng về nông thôn – nơi ở của những người nông dân chất phác, giàu tình thương người nhưng cuộc sống thường bất hạnh. Như trong truyện ngắn Làng, đó là hình tượng của một con người yêu quê hương, yêu cái làng của mình nhưng phải tản cư vì địch. Đó là câu chuyện về mối duyên vợ chồng bộp chợt của Tràng và thị… Tất cả đều là những con người nghèo khổ nhưng giàu tình thương người, tình yêu quê hương đất nước dù đang phải chịu đựng chiến tranh, loạn lạc, cái đói hoành hành.

    Tiếp đến phải kể đến là nghệ thuật miêu tả chân dung, tâm lý nhân vật qua từng tác phẩm. Các nhân vật của ông đều hiện lên với những tính cách, tâm lý khác nhau được thể hiện qua cử chỉ, hành động và lời nói. Như trong Vợ nhặt, bà cụ Tứ hiện lên là một người mẹ hiền từ, nhân hậu, vóc dáng của bà cũng nói lên cuộc đời khổ đau, bất hạnh mà bà đã trải qua. Người mẹ nghèo ấy, dù vậy nhưng vẫn dạt dào tình thương, không chỉ dành cho đứa con trai mà còn là cô con dâu được “nhặt” về. Bà thương cho số phận của hai đứa cũng thương cho chính thân phận mình. Nhưng dù vậy bà luôn hướng các con đến tương lai tươi sáng dù nạn đói vẫn đang hoành hành, hiện hữu. Không quá cầu kỳ về xuất thân, hoàn cảnh, các nhân vật của ông đều hiện lên một cách giản dị nhưng thấm đượm tình người, tình yêu xóm làng (ông Hai trong truyện ngắn Làng) được thể hiện rõ nét qua những nét chấm phá của Kim Lân.

    Cuối cùng là nghệ thuật sử dụng ngôn từ độc đáo. Chúng ta không thể phủ nhận rằng ông rất có biệt tài trong việc lựa chọn và vận dụng ngôn từ tuyệt vời với sự kết hợp hài hòa nhưng vẫn giữ được nét mộc mạc, giản dị của ngôn ngữ đồng quê. Như trong truyện ngắn Làng hay Vợ nhặt, ta có thể dễ dàng bắt gặp những từ ngữ miêu tả chân dung nhân vật một cách sáng tạo mà hợp lý như “gà gà”, “nhấp nhỉnh”…

    Tóm lại, nhờ vào sự sắc sảo trong lời văn cũng như nhân vật, truyện ngắn của Kim Lân luôn để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc về triết lý xã hội sâu sắc về tình người và tình yêu quê hương đất nước. Để từ đó khẳng định song hành cùng những vấn đề về miếng cơm manh áo thì đó là vấn đề tình người và nó mới là yếu tố quan trọng cứu rỗi cuộc đời bất hạnh của mọi người trong thời buổi loạn lạc.

    × sticky